Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh bạch hầu | Nơi cung cấp những thông tin liên quan đến pháp luật mới nhất

Có phải bạn đang muốn tìm hiểu về pháp luật phải không? Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh bạch hầu đúng không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay tại đây nhé.

Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh bạch hầu | Trang cung này cung cấp những thông tin pháp luật hữu ích nhất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập Tự do Hạnh phúc

HƯỚNG DẪN

GIÁM SÁT VÀ PHÒNG, CHỐNG BỆNH BẠCH HẦU

(Ban hành kèm theo Quyết định số: 3

5

93

/QĐ-BYT ngày 18 tháng 8 năm 2020

của Bộ trưởng Bộ Y tế)

I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG

Bệnh bạch hầu là bệnh truyền nhiễm cấp tính thuộc nhóm B. Bệnh gây ra

do vi khuẩn bạch hầu sinh độc tố (Corynebacterium diphtheriae) gồm 4 típ sinh

học: Gravis, Mitis, Intermedius và Belfanti. Bốn típ sinh học này chỉ khác nhau

về đặc điểm hình thái khuẩn lạc một số đặc điểm sinh vật hoá học nhưng

không sự khác biệt trong biểu hiện lâm sàng cũng như khả năng lây truyền.

Sức đề kháng của vi khuẩn bạch hầu ngoài thể rất cao, chịu được khô lạnh,

đặc biệt khi được chất nhày bảo v. Trên đồ vải như chăn, màn, quần áo, gối

thể sống được 30 ngày; trên cốc, chén, thìa, bát đũa, đồ chơi thể sống được

vài ngày; trong sữa, nước uống sống 20 ngày; trong tthi sống được 2 tuần. Vi

khuẩn bạch hầu nhạy cảm với các yếu tố lý, hoá. Dưới ánh sáng mặt trời trực

tiếp vi khuẩn sbị giết chết sau vài giờ. Nhiệt độ 58 độ C sống được 10 phút

bị giết chết nhanh chóng nhiệt độ sôi. Vi khuẩn cũng dễ bị tiêu diệt bởi các

hoá chất khử trùng thông thường.

Bệnh bạch hầu lưu hành trên toàn cầu, hay gặp các ca bệnh tản phát

hoặc các vụ dịch nhỏ, chủ yếu nhóm dưới 15 tuổi không được tiêm vắc xin.

Tuy nhiên hiện nay đã ghi nhận số mắc tăng nhóm trẻ lớn người lớn tại

những vùng không được tiêm chủng hoặc tỷ lệ tiêm chủng thấp. Bệnh lây truyền

từ người sang người qua đường hô hấp do tiếp xúc trực tiếp với người bệnh hoặc

người lành mang trùng hít phải các chất tiết đường hấp của người bệnh

bắn ra khi ho, hắt hơi. Bệnh cũng thể lây qua tiếp xúc với đồ vật bị ô nhiễm

với các chất tiết của người bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu. Thời kỳ bệnh thường

từ 2 đến 5 ngày. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu có sốt, ho, đau họng, hạch góc hàm

sưng đau (cổ bạnh), tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc toàn thân, giả mạc

màu trắng xám, dai, dính amidal hoặc thành sau họng. Bệnh nhân cũng có thể

bị viêm tim, nhiễm độc thần kinh dẫn đến tử vong do ngoại độc tố của vi

khuẩn. Tỷ lệ tử vong khoảng 5-10%. Người bệnh người lành mang trùng vừa

chứa, vừa nguồn truyền bệnh, trong đó người lành mang trùng đóng vai

trò duy trì nguồn truyền nhiễm cộng đồng, điều này giải thích bệnh bạch hầu

thể đột nhiên xảy ra những nơi trước đó không thấy ca bệnh xuất

Bạn có thể xem thêm nhiều thông tin về pháp luật tại đây nhé: Xem thêm thông tin về pháp luật tại đây

Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh bạch hầu và những từ khoá người dùng thường tìm kiếm.

#Hướng #dẫn #giám #sát #và #phòng #chống #bệnh #bạch #hầu.

Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh bạch hầu.

Https://sanotovietnam.com.vn mong rằng những thông tin mà chúng tôi cung cấp mang lại nhiều giá trị cho bạn. Xin chân thành cảm ơn.

Thông tin pháp luật mới nhất về chủ đề Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh bạch hầu.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập Tự do Hạnh phúc

HƯỚNG DẪN

GIÁM SÁT VÀ PHÒNG, CHỐNG BỆNH BẠCH HẦU

(Ban hành kèm theo Quyết định số: 3

5

93

/QĐ-BYT ngày 18 tháng 8 năm 2020

của Bộ trưởng Bộ Y tế)

I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG

Bệnh bạch hầu là bệnh truyền nhiễm cấp tính thuộc nhóm B. Bệnh gây ra

do vi khuẩn bạch hầu sinh độc tố (Corynebacterium diphtheriae) gồm 4 típ sinh

học: Gravis, Mitis, Intermedius và Belfanti. Bốn típ sinh học này chỉ khác nhau

về đặc điểm hình thái khuẩn lạc một số đặc điểm sinh vật hoá học nhưng

không sự khác biệt trong biểu hiện lâm sàng cũng như khả năng lây truyền.

Sức đề kháng của vi khuẩn bạch hầu ngoài thể rất cao, chịu được khô lạnh,

đặc biệt khi được chất nhày bảo v. Trên đồ vải như chăn, màn, quần áo, gối

thể sống được 30 ngày; trên cốc, chén, thìa, bát đũa, đồ chơi thể sống được

vài ngày; trong sữa, nước uống sống 20 ngày; trong tthi sống được 2 tuần. Vi

khuẩn bạch hầu nhạy cảm với các yếu tố lý, hoá. Dưới ánh sáng mặt trời trực

tiếp vi khuẩn sbị giết chết sau vài giờ. Nhiệt độ 58 độ C sống được 10 phút

bị giết chết nhanh chóng nhiệt độ sôi. Vi khuẩn cũng dễ bị tiêu diệt bởi các

hoá chất khử trùng thông thường.

Bệnh bạch hầu lưu hành trên toàn cầu, hay gặp các ca bệnh tản phát

hoặc các vụ dịch nhỏ, chủ yếu nhóm dưới 15 tuổi không được tiêm vắc xin.

Tuy nhiên hiện nay đã ghi nhận số mắc tăng nhóm trẻ lớn người lớn tại

những vùng không được tiêm chủng hoặc tỷ lệ tiêm chủng thấp. Bệnh lây truyền

từ người sang người qua đường hô hấp do tiếp xúc trực tiếp với người bệnh hoặc

người lành mang trùng hít phải các chất tiết đường hấp của người bệnh

bắn ra khi ho, hắt hơi. Bệnh cũng thể lây qua tiếp xúc với đồ vật bị ô nhiễm

với các chất tiết của người bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu. Thời kỳ bệnh thường

từ 2 đến 5 ngày. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu có sốt, ho, đau họng, hạch góc hàm

sưng đau (cổ bạnh), tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc toàn thân, giả mạc

màu trắng xám, dai, dính amidal hoặc thành sau họng. Bệnh nhân cũng có thể

bị viêm tim, nhiễm độc thần kinh dẫn đến tử vong do ngoại độc tố của vi

khuẩn. Tỷ lệ tử vong khoảng 5-10%. Người bệnh người lành mang trùng vừa

chứa, vừa nguồn truyền bệnh, trong đó người lành mang trùng đóng vai

trò duy trì nguồn truyền nhiễm cộng đồng, điều này giải thích bệnh bạch hầu

thể đột nhiên xảy ra những nơi trước đó không thấy ca bệnh xuất

Bài viết liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *